Tháng Năm 26, 2009
Tháng Năm 18, 2009
Triệu Tử Dương – Prisoner of State

Prisoner of State ra mắt 19/05 nói nhiều đến vụ Thiên An Môn 04-06-1989
Triệu Tử Dương và những lời nói trong năm sau cùng của đời ông được ghi âm sau 16 năm bị quản thúc tại gia, nay xuất bản thành sách. Ðiều đáng buồn cho mọi người Trung Hoa là bản dịch bằng tiếng Anh (Prisoner of State, Tù Nhân của Nhà Nước) được xuất bản trước, trong khi nguyên bản bằng Trung văn vẫn chưa in ra. Riêng điều này cũng chứng tỏ đời sống tinh thần của quốc gia với hơn một tỷ dân và hơn bốn ngàn năm văn hiến nay vẫn còn u ám vì thiếu tự do xuất bản. Hai mươi cuốn băng thu lời tự sự của Triệu Tử Dương đã được các đồng chí của ông lén đưa ra ngoài để bóc, đến nay in thành sách. Người từng là cánh tay mặt của Triệu Tử Dương, ông Bao Ðồng (Bao Tong) nhận xét rằng việc in bản tiếng Anh cuốn sách ngay bây giờ là để dư luận thế giới chú ý, khiến cho đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể phủ nhận sự có mặt của cuốn tự sự này, và không thể cấm đoán và xóa bỏ nó mãi được. Ông Bao Ðồng là người tìm cách đưa cuốn sách này ra ánh sáng. Ngoài ra, chúng ta cũng biết việc xuất bản cuốn tự sự trong thời gian này cũng là để đi một bước trước ngày 4 Tháng Sáu, đúng 20 năm sau cuộc tàn sát ở Thiên An Môn mà ông Triệu Tử Dương đã phản đối, mà vì thế ông mất chức tổng bí thư đảng Cộng Sản. Những tiếng vọng từ đáy mộ được cất lên chỉ trong 3 tuần lễ trước ngày “Lục Tứ” này chính là để nêu lại vấn đề lịch sử về vụ án Thiên An Môn, mà nhiều gia đình của các sinh viên đã chết vẫn kêu gọi đảng Cộng Sản Trung Quốc xét lại.
Trong các lời tự sự, Triệu Tử Dương lên án quyết định đưa quân đội tới Thiên An Môn bắn giết các sinh viên là một hành động bất hợp pháp. Ðáng lẽ quyết định này phải được Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản thảo luận và biểu quyết, nhưng Ðặng Tiểu Bình đã chuyên quyền ra lệnh điều quân với tư cách chủ tịch Quân ủy Trung ương, với sự đồng lõa của Thủ Tướng Lý Bằng. Theo Triệu Tử Dương chính Lý Bằng là người đứng hẳn về phía chủ trương tàn bạo và thúc đẩy Ðặng Tiểu Bình đi tới quyết định giết người đó. Triệu Tử Dương kể rằng ông phải yêu cầu được gặp Ðặng Tiểu Bình, và khi được đưa tới dinh cơ của ông này thì thấy các lãnh tụ khác trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị đã có mặt ở đó để ủng hộ quyết định đàn áp. Nhưng Triệu Tử Dương nhấn mạnh rằng không hề có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị cho phép ban hành tình trạng thiết quân luật, và hành động đó hoàn toàn không hợp pháp, theo chính pháp luật của Trung Quốc trong thời gian đó. Trong suốt thời gian Tháng Năm năm 1989 khi các sinh viên đang biểu tình, Triệu Tử Dương luôn luôn chủ trương phải nói chuyện với đại diện của các sinh viên để đáp ứng với nguyện vọng của người người biểu tình, gồm các sinh viên, công nhân và giới trí thức trẻ ở Bắc Kinh, đã được thanh niên toàn quốc ủng hộ. Theo ông, các lãnh tụ sinh viên không mấy người tỏ ý chống lại sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản mà họ chỉ yêu cầu đảng chống tham nhũng, đặc biệt là những đặc quyền đặc lợi của đám “con ông cháu cha” thuộc giới thống trị trong đảng. Nhưng đối với những người không quá quan tâm đến biến cố lịch sử Thiên An Môn mà chỉ muốn tìm hiểu về công việc cải tổ kinh tế và chính trị ở Trung Quốc, thì cuốn sách của Triệu Tử Dương cũng cho chúng ta biết nhiều điều mới. Một điều Triệu Tử Dương đã vạch ra là ý kiến thay đổi hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản không phải do Ðặng Tiểu Bình xướng xuất mà do chính những kinh nghiệm thực tế mà Triệu Tử Dương đã thành công khi thi hành những cải cách ở các tỉnh. Ðọc lại tiểu sử của ông, chúng ta thấy có thể tin ở lời quả quyết này, và thấy Ðặng Tiểu Bình vẫn theo thói của các lãnh tụ Cộng Sản độc tài, là cướp công của những người thuộc cấp. Triệu Tử Dương sinh năm 1919 ở Hà Nam, cũng là con một địa chủ như Ðặng Tiểu Bình. Gia nhập đảng Cộng Sản từ năm 19 tuổi, ông làm cán bộ huyện ủy thi hành cải cách ruộng đất ở các tỉnh miền Trung Trung Quốc trong thời gian kháng Nhật và nội chiến với Quốc Dân Ðảng. Sau khi Cộng Sản chiếm được chính quyền năm 1949, Triệu Tử Dương tiếp tục những hoạt động về nông thôn ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc, năm 1955 được bầu vào ban lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, một tỉnh rộng lớn và sản sinh nhiều người có tinh thần cách mạng trong nước Trung Hoa. Năm 1965, ông làm bí thư thứ nhất của tỉnh Quảng Ðông, cho tới khi bị phế truất trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa; nhưng tới năm 1972 ông lại trở về tỉnh này rồi hai năm sau được lên làm tổng bí thư trở lại. Trong thời gian đầu lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, Triệu Tử Dương đã thí nghiệm những cải tổ về kinh tế đầu tiên ở nước Trung Hoa, cho phép chợ búa ở thôn quê được hoạt động và cho nông dân được cầy cấy những thửa ruộng tư của họ. Trong thời gian Cách Mạng Văn Hóa, Triệu Tử Dương đã bị đưa đi làm ở các nhà máy để “cải tạo bằng lao động” cũng giống như Ðặng Tiểu Bình. Năm 1976, Triệu Tử Dương được đưa về làm bí thư thứ nhất của tỉnh Tứ Xuyên, tỉnh đông dân nhất Trung Quốc lúc đó, với 100 triệu dân, và cũng là quê hương của Ðặng Tiểu Bình. Chính tại tỉnh này, Triệu Tử Dương đã cho thử hệ thống “khoán sản” cho nông dân chịu trách nhiệm về mảnh đất mà họ trồng trọt, thay vì chỉ theo chỉ tiêu của công xã nhân dân. Cuộc cải tổ táo bạo này đã nâng sản năng nông phẩm của toàn tỉnh. Chính thành tích này đã khiến Ðặng Tiểu Bình chú ý tới và nâng Triệu Tử Dương lên làm ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị vào năm 1977, và hai năm sau thành ủy viên chính thức, một cuộc thăng quan tiến chức rất nhanh. Sang năm 1978 Ðặng Tiểu Bình bắt đầu cho áp dụng một số chính sách thay đổi nền kinh tế “xã hội chủ nghĩa.” Năm 1980 Triệu Tử Dương được phong làm phó thủ tướng, rồi mấy tháng sau lên làm thủ tướng Trung Quốc. Năm 1984 ông đi thăm nhiều quốc gia, trong đó có nước Mỹ. Năm 1987 Triệu Tử Dương được làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc thay Hồ Diệu Bang, nhưng hai năm sau thì ông mất chức vì muốn đi xa hơn trong việc cải tổ chính trị. Về cuộc tàn sát Thiên An Môn, Triệu Tử Dương nói, “Tôi tự nhủ, dù bất cứ cái gì xẩy ra, tôi không thể nào là người tổng bí thư ra lệnh cho quân đội đàn áp sinh viên… Ðêm mùng Ba Tháng Sáu, tôi ngồi trong sân sau với gia đình, nghe thấy tiếng súng nổ. Một thảm kịch làm cả thế giới bị sốc đã không tránh được, giờ này đang diễn ra.” Ðặng Tiểu Bình vẫn được coi là người xướng xuất cuộc “cải tổ” xóa bỏ kinh tế Cộng Sản ở Trung Quốc. Nhưng nay Triệu Tử Dương nói thẳng chính ông là người đi tiên phong trong cuộc cách mạng đó. Không những ông đã xóa bỏ các công xã nhân dân của Mao Trạch Ðông trước tiên, ông cũng là người khuyên Ðặng Tiểu Bình thành lập những khu kinh tế đặc biệt chuyên sản xuất để xuất cảng, một mô thức đã được áp dụng ở Ðài Loan trước đó. Trong lời giới thiệu cuốn Tù Nhân của Nhà Nước, Roderick MacFarquhar nhận xét rằng: “Ðọc những lời tự sự chân thật và không chút khoe khoang của ông, chúng ta thấy chính ông chứ không phải Ðặng là kiến trúc sư của cuộc cải tổ. Ðặng không đưa ra những tư tưởng mới, chính Triệu là người đưa ra.” Trên mặt chính trị, cuốn sách cho thấy Triệu Tử Dương đã thay đổi tư tưởng từ những ngày ông làm tổng bí thư đảng cho tới ngày ông qua đời năm 2005. Khi còn lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc, Triệu Tử Dương vẫn chủ trương nước ông không thể theo chế độ đa đảng. Nhưng khi suy nghĩ trong thời gian bị quản thúc, ông đã nhận ra rằng công cuộc cải tổ kinh tế chỉ thành công nếu những người cai trị phải có chức trách (accountability), người dân phải được tự do tổ chức hội họp, và hệ thống tư pháp phải độc lập với đảng cầm quyền. Ông nói là, “Chính hệ thống dân chủ đại nghị đã chứng tỏ có sức sống mạnh nhất. Nếu chúng ta không tiến tới trên mục tiêu này thì không thể nào giải quyết được những hiện tượng bất bình thường trong nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc.” Trái với Ðặng Tiểu Bình là người mà ông mô tả là hoàn toàn tin tưởng vào chế độ độc tài của đảng Cộng Sản, Triệu Tử Dương chủ trương ngược lại là phải giảm bớt sự tập trung quyền hành trong tay một đảng. Ông viết: “Nếu một đảng chính trị mà quyền lực không bị ai giám sát, thế nào nó cũng sinh ra các quan chức tham nhũng.” Những lời nói phải rất giản dị đó đã bị giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải bỏ qua! Cuốn sách gồm 30 giờ nói chuyện của Triệu Tử Dương sẽ ghi danh ông trong lịch sử Trung Quốc. Một người đã chết vẫn cất được tiếng nói từ đáy mộ, nhờ các đồng chí như Bao Ðồng tận tâm tận lực bảo vệ tiếng thơm của ông.
Tháng Năm 17, 2009
Viết cho con trai vừa có bằng lái xe
Vậy là chỉ sau một giấc ngủ dài trên máy bay, con đến Mỹ, đặt chân xuống sân bay Chicago tráng lệ. Chỉ sau một đêm, con giã từ bạn bè, góc phố thân quen, mái trường cũ…, để làm quen với một thế giới khác.

Từ wave tàu con "lên đời" Mazda
Cái thế giới mới mẻ của Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, quả kỳ lạ phải không con? Nơi mà sự ân cần, thân thiện của chú hải quan nơi phi trường, chị da đen ở Sở An sinh xã hội, và mọi nhân viên công quyền khác làm cho cha con ta lạ lẫm. Nơi mà con vào công viên chơi bóng rổ, không phải trả tiền như trăm ngàn đứa trẻ Hoa kỳ khác. Đó là một ân sủng, khi thoát khỏi văn mẫu, đề thi sai, chạy trường chạy lớp, con bước vào một hệ thống giáo dục khác, nơi mà cơ hội đồng đều cho mọi người. Không có biệt lệ cho bất cứ con ông cháu cha nào cả.
Đó là lý do vì sao ta trào nước mắt, khi thấy các con trai ta, sung sướng, hồn nhiên chơi bóng rổ dưới bóng lá cờ sao vạch của một đất nước khác, không phải quê hương.
Giấc mơ Mỹ, quả là vĩ đại, không phải vì sự to lớn của nó, mà vì nó là của riêng con, riêng cho từng người. Và nó sẽ là sự thực, nếu con muốn, không phải là những lời phét lác huênh hoang của một thiên đường dối trá.
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
Chỉ sáu tháng sau, ta thầm cám ơn trời đất, ông bà khi gặp lại con. Con chững chạc, cao lớn, tự tin như bao thanh niên khác trên đất Mỹ. Con không còn từ chỗ mỗi ngày trở về nhà nhớp nhúa, hôi hám, kiệt sức với khói xe, bụi đường, nước cống ngập đen xì. Con đậu bằng lái xe hơi ở Mỹ, kết quả của một cuộc thi cử công bằng và nghiêm túc. Con có quyền tự hào khi được ngồi sau tay lái, ung dung chen vào đoàn xe xuôi ngược ngày đêm trên hệ thống xa lộ vĩ đại nơi đây. Con đã được một quyền cơ bản, quyền lái xe, một cách danh chính ngôn thuận, mà không phải chạy chọt, dấm dúi như bao người khác ở quê nhà. Ở Mỹ, có bằng lái xe là một sự kiện lớn trong đời đó con!
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
Các con ta, mỗi ngày cắp sách đến trường, về nhà không kiệt sức, không cùn mằn trong sự học nơi đây. Quyền đi học trong phẩm giá và niềm vui, quyền được hưởng thụ một nền giáo dục chính trực, công bằng, các con đã có! Đó là điều duy nhất, mà ta châm chước cho cái xã hội vừa kỳ quái nhất, vừa tốt đẹp nhất theo kiểu Hoa kỳ.
Chúc mừng con, con trai ta ạ!
Ta biết là ta may mắn khi có những đứa con trai như vậy!
Chỉ có một điều: con không muốn về Việt nam nữa!

Làng con đó, Đường Lâm. Con chớ lầm đường nha
Ta hơi chựng lại, nhưng ngẫm nghĩ một hồi, ta chẳng ngạc nhiên. Chỉ mới 6 tháng, ký ức đen của con về trường lớp, kẹt xe, khói bụi, tai nạn…vẫn chưa kịp phai nhạt. Con ghê sợ những điều ấy, cũng như ta, như triệu người Sài gòn khốn khổ khác. Con vẫn chưa quên sự phẫn nộ về một hệ thống giáo dục đầy bất công và tiêu cực. Con vẫn chưa quên những phi vụ tham nhũng bẩn thỉu đầy trên các báo ở nhà. Và bao nhiêu điều tội nghiệp đáng buồn khác, ai mà quên được?
Nhưng mà con ơi, dù nhếch nhác thảm hại đến vậy, đó vẫn là quê hương con. Nơi đó, có một Sài gòn, mà cha con ta đã từng rong ruổi. Nơi con cất tiếng chào đời, nơi con lẫm chẩm những bước đầu tiên. Nơi con nói những tiếng Việt đầu tiên “từ thuở nằm nôi”. Kể cả những điều nhỏ nhặt nhất, từ quán phở ám khói cha con ta hay ngồi, từ hiệu video con ghé, từ quán café nhìn ra sông lộng gió cha con ta ngồi tán gẫu. Tất cả những điều tưởng như vô nghĩa với cuộc sống hào nhoáng nơi đây, nhưng là ký ức, đó là quê hương máu thịt con ạ!
Con đã bị nhồi vào đầu những kiến thức sử học nhàm chám, khô khan, đầy máu và căm thù. Con đã học niềm vinh quang dối trá từ nồi da xáo thịt, từ huynh đệ tương tàn. Con đã đọc sách thấy vì nhân danh lý tưởng, niềm tin, người ta đấu tố cha mẹ anh em. Sự hung bạo, được ngụy tín dưới vỏ niềm tin. Sự mù quáng, được đậy điệm bằng lòng kiên định trung thành…
Con không thể yêu quê cha đất tổ từ những điều giả trá ấy.
Hãy về đây! Ta sẽ đem con đến Yên Tử, kể cho con nghe chuyện đánh Nguyên Mông, dưới bóng tùng già 700 năm tuổi, phủ bóng lên mộ Trúc Lâm tam tổ. Ta sẽ chỉ cho con bãi cọc của Hưng Đạo Đại vương nơi bến Bạch Đằng, nơi gã lính viễn chinh xâm lược khi nhớ đến phải run sợ đến bạc đầu. Ta sẽ dẫn con đến ngôi từ đường đơn sơ mộc mạc của bà Bùi Thị Xuân, cùng cúi lạy anh linh nữ tướng. Ta sẽ dẫn con đến đèo Ngang lúc “bóng xế tà”, cho con hiểu sự thanh cao của một tâm hồn Việt. Bên ngọn sóng bạc đầu Chương Dương, ta sẽ chỉ cho con những dấu chân xưa của Yết Kiêu, Dã Tượng, và của muôn vạn dân binh áo vải khác đã ngã xuống cho “đất nước vững thiên thu”.
Nhớ lại đi con, con trai nhỏ của ta! Con đã đặt chân đến Vạn lý Trường thành, ghê sợ cái nghĩa trang ngập xương máu lớn nhất hành tinh. Con đã thấy một Bắc kinh hào nhoáng nhưng xấu xí với khói, bụi, ô nhiễm, khạc nhổ, oang oang nơi công cộng. Con đã thấy cảnh bắt người bán hàng rong như súc vật ngay chân Tử Cấm Thành. Con cũng đã thương hại gã Trung hoa khốn khổ, lắp bắp một thứ tiếng Anh giả cầy khi bị quát tháo nơi sân bay quôc tế. Đất nước chúng ta, vẫn trường tồn dưới ách một gã khổng lồ, nhơ bẩn và man rợ như vậy đó con. Vì sao hôm nay ta không để tóc đuôi sam, con không ê a Hán tự, chúng ta không nhồm nhoàm những món ăn man rợ như óc khỉ, chân gà sống nướng? Vì sao chúng ta không bị đồng hóa theo lũ Thái thú ô hợp kia, nếu không phải vì khí thiêng sông núi, anh linh tiên tổ đang chảy trong con?
Quê hương con đó!
Nhiều lắm con, nhiều chỗ để chỉ cho con thấy, dân tộc mình đã oai hùng, kiêu dũng, thanh sạch và khổ đau đến mức nào để có con sinh thành hôm nay.
Hoặc nếu thì giờ eo hẹp, con hãy về một miền quê cát trắng, nơi ông bà, tổ tiên con yên nghỉ dưới bóng phi lao vi vút. Họ đã sống, đổ mồ hôi trên mảnh đất này, như một người nông dân lành và lương thiện như đất. Họ về với đất, trong vinh dự âm thầm, không như những ngụy-danh-nhân với lăng tẩm đền đài đồ sộ.
Quê hương con đó!
Sài gòn mà con ca thán, đâu phải thế! Sài gòn ngày xưa đẹp, thanh bình với “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, với “Trưng Vương khung cửa mùa thu”. Sài gòn mà con ngưỡng mộ qua những ca khúc vượt thời gian, qua những người Sài gòn xưa mà con hết lòng khâm phục. Sài gòn nay, như một cô gái đẹp bị lũ du côn rạch mặt, nham nhở đến tội nghiệp. Hỗn độn, xấu xí, bẩn thỉu, và hỗn hào biết mấy so với Hòn ngọc Viễn đông nền nã năm xưa.
Quê hương con đó!
Một ngày kia, con sẽ hiểu: đó là một phần máu thịt trong con. Con sẽ quay về với nó, như con cáo nhớ hang, con chim nhớ tổ. Con sẽ có cảm giác về nhà – coming home- như ta mỗi lần quay lại từ một thế giới đầy ánh sáng, đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Cái cảm giác tìm về tổ đó, nó là bản năng, nó dẫn dắt người Do thái quay về với mảnh đất Sion cằn cỗi, nó là niềm đau đáu của 2 triệu đồng bào con nơi đất khách. Không giải thích được bản năng tìm về cội nguồn đâu, con ạ! Mà cội nguồn con, đâu chỉ là Sài gòn hỗn độn hôm nay. Cội nguồn con đã bắt đầu, khi Lang Liêu mở tấm bánh chưng xanh mộc mạc tạ ơn trời đất. Gốc rễ con, đã phôi thai với mẹ Âu Cơ khi đem con lên rừng xuống biển.

Cha thứ 2 từ trái sang, mẹ người cầm nón mà không đội. Hồi đó chúng ta toàn tỏ tình bằng lời ca dao
Về đây con! Về “mặc áo the, đi guốc mộc”, về mà “nghe chuyện tình bằng lời ca dao” , về để nhìn “bóng tre êm ru” lẫn “con diều vật vờ”, để thấy “trong đêm sao mờ lòng ta bâng khuâng theo gió vi vu”…Con đã lớn lên cùng ta, với những ca khúc này mà!
Ngày con về, chắc tóc ta đã trắng như bạt ngàn lau lách. Nhưng có hề chi, nếu máu ta vẫn chảy trong con lòng thương nhớ cội nguồn không bao giờ có tuổi.
Nhớ về, nghe con!
30.4.2009
Dr. Nikonian
Tháng Tư 16, 2009
Chân lý đúc rút khi đỏ sàn, thủng đáy
Chứng khoán, mảnh đất ươm mầm cho những hy vọng đổi đời, “làm giàu không khó” (mịa cái chương trình này bi giờ sao không còn thấy chiếu nữa nhể). Thế nhưng nó lại chính là trường học lớn cho những cái đầu cả tin và mông muội. Mọi bài học của cuộc sống sẽ chỉ được đúc rút sau những thất bại. Nghiệt thật!
Nếu ai đó nói lý thuyết rằng thị trường chứng khoán chính là thị trường tiền tệ và nó vô cùng khắc nghiệt, bạc bẽo trong thời điểm cao trào, người người chơi chứng khoán, nhà nhà thắng chứng khoán thì mình nghĩ thằng đó chắc có vấn đề về thần kinh, rao giảng cái thứ lý thuyết xa lạ và lạc lõng. Khinh, không thèm chấp cái loại hâm.. đâm thủng cái mâm.
Mình không nói, cứ tưởng hay, lại tiếp rằng thì là mà nếu giả sử mình có kiếm được thật nhiều tiền nhưng không phải đổ những giọt mồ hôi hay phải bán đi chút chất xám, trí tuệ thì rồi cuộc sống cũng sẽ xô đẩy, nạn nhân của đồng tiền kia sẽ vấp ngã trong tình cảm (ý là đỏ bạc đen tình, hiểu rồi), sẽ bị xáo trộn trong cuộc sống gia đình, đảo lộn mọi giá trị cho dù là căn bản nhất, những giá trị tưởng chừng như bất biến….
Điên quá! Không thể tin nổi. Sao bi giờ là lúc nào mà lại tồn tại cái hạng người bất tài, vô dụng, đọa đời, mở mồm ra là dùng phép thắng lợi tinh thần để hòng AQ cả những người xung quanh thế nhỉ. Người ta đang rùng rùng kiếm tiền bạc tỉ, hắn thì cứ kỳ đà cản mũi. Lương tháng được bao nhiêu mà đã lên giọng dạy đời thế. Làm được cái gì, biết cái gì mà chõ mũi vào việc làm ăn, kinh doanh của người khác. Rồi lại còn nhận định thế nọ, tiên lượng thế kia.. chẳng thà ngồi im đi cho đỡ “thối chuyện”. Lộ nguyên hình cái đồ thất bại.
Kiếm được nhiều tiền, chả tiêu thì để làm gì. Mà mình có thèm tiêu bằng ba cái đồng lương còi cọc của hắn đâu cơ chứ. Chưa gì đã xót xa vô lối. Ngồi nói chuyện với những người không thức thời quá chán. Mà đấy là còn biết kiềm chế, còn không chỉ có cãi nhau. Ngược lại, mỗi lần ngồi nói chuyện với “người thức thời, hiểu biết và có cái nhìn toàn cục sắc sảo ấy” thì mình thấy thật nhẹ nhàng, thanh thoát mà lại rất gần gũi. Dần dần nảy sinh tình cảm lúc nào chẳng ai hay. Rất tự nhiên, rất gần gụi cứ như bọn mình được sinh ra là để dành cho nhau ấy. Quan điểm “người ấy” sao mà giống và cùng nhìn về một hướng với mình đến trùng hợp thế nhỉ!…XXX (Hắn chắc đau lòng lắm đây. Kệ thôi, ngu thì ráng chịu chứ tội tình gì)
Sau cùng của mọi chuyện, sàn thủng đáy, một màu đỏ chết chóc nhuộm bảng chỉ số, alô cho “người đương thời” ngự trị trái tim mình thì toàn tò te tí, như một điệu kèn đám ma.. Sao thế? Hóa ra mình đang sốc, sốc nặng cả tình lẫn tiền. Lang thang, suy tư, chiêm nghiệm và bỗng nhận ra một chân lý thật đơn giản mà hình như đã có lần được nghe từ cái “mồm thối” kia nói:
Ở ĐỜI, CHẲNG AI CHO KHÔNG AI CÁI GÌ. MỌI CÁI ĐỀU CÓ GIÁ CỦA NÓ.
Ơ đểu nhể! Thế yêu nhau vì sinh lý, quý nhau qua đồng tiền thật à?
Giờ thì mình đã hiểu ra… Nhưng gia đình và chính những người thân yêu nhất của mình lại phải gánh chịu những tổn thật cả về tinh thần cũng như tiền bạc vô cùng tệ hại. Nghiệt thật!
Để gió cuốn đi









